Quảng cáo xin liên hệ sđt: / Hoặc qua mail

Tiêm chủng là biện pháp tốt nhất để phòng tránh UỐN VÁN TRẺ SƠ SINH

8:00 AM | 13/03/2019 - Gia đình khỏe

Uốn ván trẻ sơ sinh là một bệnh nặng, do thần kinh trung ương bị nhiễm độc bởi độc tố của thực phẩm uốn ván (Clostridium tetanni). Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua rốn nên còn gọi là uốn ván rốn.

Một số loại vaccine người lớn cần tiêm chủng

Vắc xin Quinvaxem và Pentaxim - Nên hay không nên tiêm chủng nữa?

Bệnh uốn ván ở thời kì ngoài sơ sinh được mô tả từ thời kì Hippocrate nhưng mãi đến năm 1884, Carle và Rattonet mới chứng minh tính chất nhiễm khuẩn vì có thể truyền bệnh bằng cách tiêm mủ vết thương của người mắc bệnh uốn ván cho con vật thí nghiệm. Năm 1885, Nicolaier gây được bệnh uốn ván cho súc vật thí nghiệm khi lấy đất ngoài vườn tiêm cho con vật. Tác giả tìm thấy các trực khuẩn trong mủ và thấy các trực khuẩn này chỉ cư trú tại vết thương. Ông đưa ra giả thuyết: các triệu chứng quan sát được ở con vật thí nghiệm là do độc tố gây ra. Nhưng Nicolaier không cấy được loại trực khuẩn mới tìm thấy này. Năm 1889, Kitasato gây được bệnh uốn ván cho súc vật thì nghiệm khi tiêm môi trường cấy trực khuẩn uốn ván và chứng minh rằng trực khuẩn uốn ván không đi vào máu. Năm sau (1890), Kitasato tìm ra độc tố uốn ván và năm 1891 tìm ra giải độc tố.

Các công trình của nhiều tác giả cho thấy tác nhân gây bệnh là Clostridium tetani, một trực khuẩn nhỏ. Khi cấy lâu ở môi trường, trực khuẩn sinh ra nha bào ở ngay đầu nên trông giống hình một cái đinh. Trực khuẩn uốn ván kị khí, gram dương, di động, không có vỏ bọc. Muốn diệt trực khuẩn uốn ván chỉ cần đun nóng đến 50 độ C nhưng nha bào chịu đựng được 120 độ C trong 1 giờ. Nha bào có ở bụi, đất, nước, trong phân người và súc vật.

Trực khuẩn uốn ván tiết ra một ngoại độc tố mà các nhà nghiên cứu đã tách ra về mặt hóa học thành hai phần: một phần có tác dụng gây ra tan máu, gọi là tetanolysin, không có ý nghĩa về lâm sàng; một phần gây co giật các cơ, gọi là tetanospasmin. Các triệu chứng cơ bản của bệnh uốn ván là do tetanospasmin gây ra. Độc tố này tan trong nước, bị phá hủy khi đun nóng lên 70 độ C, có độc lực rất mạnh, chỉ cần một liều nhỏ (1/50.000ml) cũng đủ làm chết một con chuột. Thí nghiệm cho thấy độc tố đi từ vết thương có trực khuẩn qua máu hoặc bạch huyết vào các trực của dây thần kinh ngoại vi rồi bám vào các trung tâm thần kinh. Các tác giả đều nhận thấy ái tính cao của độc tố uốn ván với tế bào thần kinh và khi độc tố đã bám vào tổ chức thần kinh thì không thể tách ra được. Điều này rất quan trọng trong điều trị.

Trong uốn ván trẻ sơ sinh trực khuẩn Clostridium tetani xâm nhập vào cơ thể từ vết cắt ở rốn (cắt bằng dụng cụ có mang nha bào uốn ván như dao, kéo, hoặc do bông băng không diệt trùng tốt). Trong nhóm 87 bệnh nhi mắc uốn ván đã điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai, có 73 trường hợp cắt rốn bằng kéo không tiệt trùng kĩ hoặc chỉ nước nóng 5-10 phút, 10 trường hợp cắt rốn bằng que nứa; 4 trường hợp cắt rốn bằng liềm hoặc dao bổ trầu.

Một thế kỉ đã qua kể từ ngày tìm ra trực khuẩn uốn ván nhưng bệnh uốn ván vẫn còn là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu ở các nước đang phát triển.

Theo các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (1982), tỉ lệ tử vong do uốn ván ở các nước vùng Nam Á và Đông Nam Á từ 4,8-26,7 trong số 1000 trẻ sơ sinh.

Ở Việt Nam, bệnh uốn ván rốn còn gặp ở nông thôn do điều kiện tiệt trùng kém hoặc do trẻ bị “đẻ rơi”.

Tiem chung la bien phap tot nhat de phong tranh UON VAN TRE SO SINH

Ảnh minh họa

Theo "Bách khoa thư bệnh học" của NXB Y học, Giáo sư Chu Văn Tường đã mô tả chi tiết bệnh uốn ván ở trẻ sơ sinh như sau:

Về mặt lâm sàng

Thời kì ủ bệnh trung bình từ 5-12 ngày, đôi khi các triệu chứng xuất hiện sớm vào ngày thứ 2, thứ 3 hoặc muộn vào ngày thứ 18.

Bệnh bắt đầu với triệu chứng cứng hàm do cơ hàm bị co cứng. Bệnh nhi không há được miệng để bú. Cứng hàm là triệu chứng quan trọng: cứng hàm liên tục, tăng lên khi làm há miệng bệnh nhi bằng đè lưỡi. Sau đó, các cơ mặt, cổ, lưng, tứ chi đều trong trạng thái co cứng. Bệnh nhi nằm cứng đờ, tay nắm chặt, châm duỗi thẳng, nét mặt đau khổ đặc biệ: trán nhăn, môi chúm lại, hai mép bi kéo lên trán. Trong tình trạng cứng đờ, bệnh nhi có những cơn kịch phát gây co giật, thở không đều, da tím tái, Các cơn co giật có thể ngắn hoặc dài, nhanh hoặc chậm. Những cơn kịch phát này có thể gây ngừng thở nếu không được cứu chữa kị thời. Những cơn kịch phát tự nhiên xuất hiện thường do sự kích thích của tiếng động, ánh áng… Ngoài các triệu chứng chính đã mô tả ở trên, đa số bệnh nhi bị sốt. Một số sốt trên 41 độ C, một số khác lại có thân nhiệt dưới 35 độ C. Những rối loạn thân nhiệt như vậy có tiên lượng xấu.

Rốn bao giờ cũng bị nhiễm trùng nên ướt, chảy nước, chảy nước vàng hoặc mủ. Một số trẻ có triệu chứng viêm tấy đỏ.

Xét nghiệm: Do nhiễm khuẩn rốn nên bạch cầu tăng, nhất là đa nhân trung tính tăng. Không cần thiết tìm trực khuẩn uốn ván ở rốn.

Tiến triển: Nếu tiến triển tốt, các cơn co giật và triệu chứng cứng hàm ở bệnh nhân sẽ giảm dần, miệng có thể há dần. Bệnh kéo dài trung bình 8-4 tuần lễ nhưng triệu chứng tăng trương lực cơ có thể kéo dài hơn 1 tháng. Trường hợp nặng có thể có biến chứng: viêm hế quản phổi, suy dinh dường, nếu tiến triểu xấu sẽ dẫn đến tử vong. Mặc dù có các tiến vộ y học, bệnh uốn ván trẻ sơ sinh vẫn là loại bệnh gây tử vong cao: từ 30-80%. Bệnh nhi thường chết trong khoảng thời gian từ 3-6 ngày đầu nằm viện do các cơn co giật làm ngừng thở.

Những yếu tố giúp thầy thuốc chẩn đoán tiên lượng

Thời gian ủ bệnh càng ngắn, tỉ lệ tử vong càng cao. Những bệnh nhi có triệu chứng uốn ván sau 7 ngày có tỉ lệ sống cao hơn bệnh nhi có thời gian ủ bệnh dưới 7 ngày. Cơn kịch phát: Cơn co giật càng nhiều và càng dài, bệnh nhi càng có nguy cơ ngừng thở nên tiên lượng xấu. Rối loạn thân nhiệt: bệnh nhi mắc uốn ván có thân nhiệt thấp (dưới 35 độ C) hoặc cao hơn (40-41 độ C) đều có tiên lượng xấu.

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng thực thể như cứng hàm, co cứng toàn thân, co giật từng cơn đối với triệu chứng ngạt thở và nét mặt đau đớn rất đặc biệt của bệnh nhi. Trong trường hợp không điển hình, chẩn đoán phải phân biệt với các trường hợp sau: Xuất huyết não và màng não xuất hiện trong vài ngày đầu sau ki sinh, trẻ có giật, tím tái và ngừng thở nhưng không cứng hàm liên tục, không có “nét mặt đau khổ”… Viêm màng não mủ ở trẻ sơ sinh: Bệnh nhi không cứng hàm ngoài co giật, cần tìm ổ nhiễm khuẩn và các triệu chứng màng não như thóp phồng, cổ cứng, Kering. Tetabi ở trẻ sơ sinh: Bện nhi co giật, có dấu hiệu Chvosteck; trường hợp nghi ngờ cần tìm canxi huyết. Di tật khớp hàm bệnh nhi không há được miệng ít gặp.

Điều trị uốn ván

Điều trị uốn ván trẻ sơ sinh nhằm mục đích trung hòa độc tố uốn ván còn lưu hành trong máu. Săn sóc bệnh nhi trong thời gian độc tố còn bám vào tổ chức thần kinh. Điều trị vết thương có trực khuẩn gây bệnh. Trong vài chục năm gần đây, điều trị uốn ván trẻ sơ sinh gồm các phương pháp điều trị đặc hiệu, điều trị cơn co giật, nuôi dưỡng và chăm sóc.

Điều trị đặc hiệu bằng tiêm huyết thanh chống uốn ván. Có hai loại huyết thanh: huyết thanh chống uốn ván lất từ người, có ưu điểm không gây phản ứng và tồn tại lâu, tiêm từ 5.000-10.000 đơn vị (thường dùng ở nước ngoài); huyết thanh chống uốn ván lấy từ huyết thanh ngựa được dùng rộng rãi hơn, tiêm từ 10.000-20.000 đơn vị. Huyết thanh chống uốn vãn tiêm dưới da hay tiêm bắp thịt.

Điều trị các cơn co giật có vai trò quan trọng vì các cơn co giật có thể gây tử vng đột ngột. Theo Ralph Speech, dùng các thuốc an thần và giãn cơ như sau:

Penthobarbital (menbutal) và sescobarbital (seconal) tiêm tĩnh mạch 200mg/kg để làm giãn cơ bắp. Sau dùng barbiturate có tác dụng lâu như pesnobarbital 5-10mg/kg/ngày.

Méprobamate (equanil, niltwn) làm tăng tác dụng của barbiturate với liều lượng 50-10mg (tiêm bắp). Có thể cho thêm chlorpromazine (largactil, plégomazine), mỗi lần 0,5ml/kg (tiêm hoặc uống), hoặc sirô chloral uống 5-10g/ngày (20g = 1g hydrate chloral), diazépan (valium) 1-2m/giờ. Cần theo dõi vì thuốc hydrate chloral có tác dụng ức chế hô hấp.

Phải đảm bảo thường xuyên làm thông đường thở. Trường hợp nhẹ, dùng một hoặc hai loại thuốc an thần như chlorpromazine và diazépan. Nếu có dấu hiệu suy hô hấp, đặt noi khí quản, hằng giờ hút đờm dãi cho đến khi giai đoạn cấp vượt qua. Trường hợp nặng, một số thầy thuốc Nam Phi đã áp dụng phương pháp phức tạp hơn: bắt đầu bằng đặt nội khí quản, sau đó mở khí quản ở vòng sụn khí quản thứ tư và thứ năm. Đặt một ống bằng latex hoặc nilon số 00, đưa xuống gần chạc khí quản (carena) để thông khí cho cả hai phổi. Lắp một ổng khi hình chữ T, một đầu nối với hô hấ nhân tạo, còn một dầy bịt lại, thỉnh thoảng mở ra đưa uống hút đờm, dãi. Trong mất ngày đầu, gây duỗi bằng d-tubocurarine, tiêm bắp với liều 6-40mg/ngày. Thông khí phổi bằng khí trờ, nhịp thở 37 lần/phút, áp suất CO2 ở mức bình thường. Sau 10-12 ngày, nhịp thở giảm còn khoảng 20 lần/phút. Từ ngày thứ 21, thử bỏ uống khí quản.

Phương pháp điều trị phải được một tập thể nhân viên lành nghề hoặc theo dõi chặt chẽ.

Nuôi dưỡng và chăm sóc ngưii bệnh uốn ván

Đặt bệnh nhi trong lồng ấp có nồng độ ôxy và nhiệt độ thích hợp. Nếu không có lồng ấp, đặt trong phòng yên tĩnh, ít ánh sáng. Không nên lay động hoặc bế ẵm trẻ để tránh các cơn co giật.

Trong giai đoạn đầu, nếu bệnh nhân có giật nhiều thì nuôi dưỡng bằng tĩnh mạch, bảo đảm nhu cầu về nước, điện giải và các chất dinh dưỡng. Khi đỡ có giật, cho ăn sữa mẹ qua ống thông mũi - dạ dày: 50ml x 8 lần/ ngày. Nếu không có điều kiện nuôi downgx bằng tĩnh mạch, nên đặt thông mũi – dạ dày ngay sau khi vào viện để có thể bơm sữa mẹ cho uống thuốc (kháng sinh, vitamin B, C, K…).

Điều trị vết thương rốn: Trước đât, một số thầy thuốc cho rằng phải cắt bỏ rốn bị nhiễm khuẩn mới được bệnh. HIện nay, người ta thường chỉ rửa sạch rốn nhiễm trùng bằng ôxy già.

Sử dụng kháng sinh: Kháng sinh chỉ có tác dụng kiếm chế trực khuẩn uốn ván nhưng không kiềm chế được việc sản xuất độc tố. Kháng sinh cũng chữa được bội nhiễm. Đa số thầy thuốc dùng Penicilline 200.000-300.000 đơn vị/kg/ngày, trong 10 ngày. Nêu có dị ứng với Penicilline, dùng kháng sinh có phổ rộng như Cephalatine 40mg/kg/ngày.

Phòng bệnh uốn ván

Năm 1986, theo Grant P., trên oàn thế giới có 800.000 trẻ sơ sinh chết vì bệnh này, chiếm 57% tổng số trẻ tử vong dưới 5 tuổi (14 triệu). Tổ chức y tế thế giới đề ra chỉ tiêu phấn đấu hạ tỉ lệ trẻ mắc bệnh uốn ván vào năm 2000 xuống còn 1/1000 số trẻ sơ sinh sống. Muốn đạt chỉ tiêu này, toàn ngày y tế cần áp dụng đồng bộ những biện pháp phòng bệnh.

Biện pháp chung là nâng cao chi phí cho phòng bệnh uốn ván, loại trừ một số tập quán, thói quen sinh đẻ, đỡ đẻ phản khoa học. Cải thiện điều kiện vệ sinh của các cơ sở y tế, nhất là phòng đẻ của các nhà hộ sinh. Trang bị các phương tiện đỡ đẻ và phương tiện tiệt trùng theo quy định của ngành y tế.

Theo dõi tốt phụ nữ có thai, tránh tình trạng “đẻ rơi”. Đào tạo, bồi dưỡng nữ hộ sinh lành nghề. Tiêm chủng cho trẻ em. Đối với bệnh nhi, ngoài việc tiêm huyết thanh chống uốn ván, cần tiêm giải độc tố uốn ván. Trong tuần lễ thứ 4 đến tuần lễ thứ 6, tiêm lần thứ hai và sau đó tiêm lần thứ 3. Lúc đó mới có miễn dịch chắc chăn phòng uốn ván. Tiêm phòng bệnh uốn ván cho sản phụ vì người mẹ có thể truyền cho thai nhi miễn dịch chống uốn ván, các nhà y học chủ trương tiêm giải độc tố cho mẹ. Phương pháp này tỏ ra an toàn và hiệu quả.

Các chuyên viên y tế thế giới khuyên nên tiêm 2 lần, khoảng cách giữa 2 lần tiêm càng lớn càng tốt. Các kháng thể của mẹ truyền sang con theo đường rau thai sẽ tăng nếu khoảng cách giữa 2 lần tiêm càng dài. Đối với phụ sản chưa lần nào tiêm phòng uốn ván thì tốt nhất là tiêm lần thứ nhất vào tháng thứ ba đến tháng thứ năm của thời kì thai nghén, lần thứ hai vào tháng thứ sáu hay tháng thứ bảy. Lần thứ nhất có thể tiêm muộn hơn nhưng lần thứ hau cần tiêm trước ngày sinh 2 tuần lễ.

Để thanh toán bệnh uốn ván trẻ sơ sinh, Hội nghị quốc tế về bệnh uốn ván (1987) chủ trương tiêm chủng phòng uốn ván cho tất cả phụ nữ đang độ tuổi mang thai với 5 lần tiêm:

- Tiêm lần thứ nhất cho phụ nữ mang thau ở cơ sở y tế (phòng khàm phường, trạm y tế xã) dù họ đến với lí do nào như khám bệnh cho con hay mẹ, khám thai…

- Tiêm lần thứ hai: 4 tuần lễ sau tiêm lần đầu.

- Tiêm lần thứ ba: 6-12 tháng sau khi tiêm lần thứ hai. Sau lần tiêm này, cả mẹ và con đã được bảo vệ chống uốn ván.

- Tiên lần thứ tư: tối thiểu một năm sau lần thứ ba hoặc trong thời gian mang thai. Lần tiêm này sẽ được bảo vệ cho mẹ và con không mắc bệnh uốn ván trong 10 năm.

- Tiêm lần thứ năm sau lần thứ tư tối thiểu 1 năm và sẽ gây miễn dịch cho mẹ và con suốt đời.

Chương trình tiêm chủng cho mẹ để phòng tránh uốn ván trẻ sơ sinh đã được Tổ chức y tế thế giới tiến hành ở một số nước có kết quả tốt.

 Bình Nguyên

Theo chuyên đề Sức Khỏe Gia Đình

loading...
Đầu trang